Nhìn xuyên qua

 

 “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu”

để

tìm hiểu những uẩn khúc còn lại của lịch sử

…và của chính chúng ta

***

 

Trong cuốn hồi ký “The White House Years” (1979), khi viết về những tranh cãi giữa mình với TT Thiệu lúc hòa đàm Paris, TS Kissinger đã phê phán hết sức khắt khe về cá nhân ông Thiệu, đồng thời mạ lỵ chính con người Việt Nam. Thí dụ:

  • Phương pháp của ông Thiệu thật là đúng Việt Nam một cách đáng ghét (trang 1034);
  • “Sự đa nghi không lành mạnh của ông ta là một đặc tính quá tinh túy của người Việt Nam” (1034);
  • Láo xược (insolence) là cái áo giáp của kẻ yếu…Hồi tháng Chín 1972, phía Việt Nam – đồng minh của chúng ta – đã làm cho tôi uất ức bằng cái lối người Việt Nam thường dùng để hành hạ đối thủ thân xác mạnh mẽ hơn họ” (1327);
  • Chẳng người Việt Nam nào, cả Bắc lẫn Nam, tin rằng tự tín, tin tưởng, hay tình bạn là điều quyết định. Họ đã sống thoát được ngoại bang qua nhiêu thế kỷ không phải là do tin tưởng mà là do vận dụng mánh khóe” (1368);
  • Biết ơn những gì người khác làm cho mình thì không phải là đặc tính của con người Việt Nam (1338).

***

– Phóng viên Tạp chí Der SPIEGEL (nước Đức, quê hương ông Kissinger) hỏi TT Thiệu: “Trong cuốn sách của ông ta, TS. Kissinger đã có những lời bình luận thật chua chát về các nhà lãnh đạo chính trị. Nhưng những lời hèn hạ nhất rõ ràng là ông ta đã để dành cho ông…Và cuối cùng Kissinger đã cảm thấy ‘giận dữ nhưng không làm gì được vì cái mà người Việt Nam luôn luôn dùng để hành hạ những đối thủ thân xác mạnh hơn mình’. Ông trả lời như thế nào về những điều miêu tả về chính ông trong cuốn hồi ký của Kissinger?

–TT THIỆU: “Tôi không muốn trả lời ông ta. Tôi không thích phê bình về ông ta. Ông ta có thể phê bình tôi, tốt hay xấu tùy theo ý thích của ông ấy. Tôi muốn nói hơn về những gì thực sự đã xảy ra giữa Hoa Kỳ và Nam Việt Nam…

– Der SPIEGEL: Kissinger than phiền là ông đối xử với cá nhân ông ta tệ bạc quá…

TT Nixon còn đi xa hơn nữa: theo Kissinger ông ấy (Nixon) gọi ông là ‘thằng chó đẻ’ (son of a bitch), và Nixon nói “rồi sẽ cho ông biết thế nào là tàn nhẫn”.

– TT THIỆU: “Rất tiếc là tôi không thể trả lời câu phê bình đó của ông Nixon. Nó không xứng đáng để tôi trả lời…

“Người Mỹ muốn chúng tôi chỉ là những kẻ để sai bảo. Nhưng tôi không phải là kẻ để sai bảo và người Nam Việt Nam không phải là dân tộc để sai bảo; Quốc hội của chúng tôi không phải là Quốc hội để sai bảo. Tôi phải thỉnh thị ý kiến của họ.”

***

36 năm đã trôi qua, nhưng lịch sử tấm bi kịch Miền Nam vẫn chưa được mở ra hết, vì người giữ chìa khóa cánh cửa chính vào kho tàng lịch sử là TT Thiệu đã vĩnh viễn ra đi.

Từ khi chúng tôi ra mắt cuốn Khi Đồng Minh Tháo Chạy (2005), độc giả đã đặt thêm nhiều câu hỏi về những diễn biến nơi hậu trường, về vai trò cũng như về chính con người ông Nguyễn Văn Thiệu. Bởi vậy, trong cương vị là một chứng nhân, chúng tôi đã đào sâu hơn nữa về một giai đoạn lịch sử đầy uẩn khúc để viết cuốn sách này nối tiếp cho cuốn trước.

Thật may mắn là trong 5 năm qua đã có nhiều bằng chứng lịch sử quý giá được giải mật. Rồi những tài liệu do Đại sứ Graham Martin để lại trước khi ông tạ thế: tất cả là trên 20 công hàm tối mật nói lên sự thật về những ngày giờ chót. Chính ông Đại sứ Mỹ là người ở tại chỗ nên đã góp phần vào những sắp xếp và theo dõi được mọi diễn biến. Bởi vậy hành động của ông đã phản ảnh được tinh thần công bình và chính trực của nhân dân Hoa Kỳ.

Cuốn sách tập trung vào tâm tư của người lãnh đạo nền Đệ Nhị Cộng Hòa, ghi lại cho rõ hơn về những gì chúng tôi trông thấy, những gì nghe thấy, những quyết định, mệnh lệnh, rồi những buổi họp cuối cùng tại Dinh Độc Lập, dẫn đến những chèo chống, xoay xở của chính viên thuyền trưởng trước khi con tầu Miền Nam chìm đắm. Hy vọng của chúng tôi là sẽ giúp cho độc giả có thêm những dữ kiện mới và chính xác để độc giả đi đến những kết luận riêng của mình.

Đọc cuốn sách này, độc giả sẽ biết thêm về những gì TT Thiệu đã tâm sự cùng tác giả sau 1975, từ áp lực phải từ chức tới nỗi ngậm ngùi trước khi bắt buộc rời quê hương, rồi niềm cay đắng sống nốt cuộc đời lưu vong nơi hải ngoại. Ông đã kể lại nhiều chi tiết về hoàn cảnh nghiệt ngã của VNCH, về nỗi khó khăn phải lệ thuộc vào bên ngoài, và về cái cảnh làm tổng thống một nước nghèo. Có lần ông bắt đầu nói chuyện từ sáng sớm, ngắt quãng, rồi lại tiếp tục, lai rai cho tới mãi đêm khuya. Ông luôn bị ray rứt bởi những tình cảm lẫn lộn về một đồng minh thương ghét, một mối tình chẳng bao giờ suông sẻ.

Nhìn xuyên qua tâm trạng một tổng thống, độc giả sẽ tìm thấy câu trả lời cho bao nhiêu thắc mắc còn nặng lòng tới ngày nay. Có thể độc giả còn nghĩ rằng: ‘thì ra, cái tâm tư của người lãnh đạo cũng chẳng khác tâm tư của chính mình là bao nhiêu?’ Ví dụ như đối với Hoa Kỳ thì có thể là phần đông chúng ta cũng bị lôi cuốn vào cái vòng luẩn quẩn thương ghét, vui buồn. Buồn vì nhìn thấy những tham vọng, dối trá của một vài chính trị gia có quyền thế, thời này qua thời kia, ảnh hưởng không ít tới những bang giao với nước khác. Vui vì biết rằng nhân dân Hoa Kỳ là một dân tộc vĩ đại, đặt thật cao những giá trị nhân bản, ngay thẳng, chính trực. Và quốc gia này ngày trước chỉ là đồng minh, bây giờ lại trở thành quê hương thứ hai của mình.

Rồi sau cùng thì TT Thiệu cũng như nhiều người trong chúng ta: khi ở vào những tình huống éo le, những hoàn cảnh tuyệt vọng thì chỉ còn có cách là đến với Thiên Chúa, đến với Trời Phật: “Đôi khi tôi có cảm tưởng như chẳng còn có thể làm gì hơn được nữa ngoài việc cầu xin Chúa,” ông Thiệu tâm sự.

***

Bố cục cuốn sách gồm bốn phần và một lời kết:

  • Phần một trình bày những dữ kiện dẫn tới việc ông Thiệu phải từ chức và rời Việt Nam. Độc giả có dịp tìm hiểu những uẩn khúc, từ cuộc họp mật tại Cam Ranh tới việc rút quân: nào Đà Nẵng, Huế, Pleiku, hay những hy vọng le lói sau trận Xuân Lộc. Rồi những sắp xếp để rút toàn bộ về Miền Tây. Sau cùng là những cố gắng để giữ được an ninh, trật tự cho tới giờ phút chót, như một phép lạ. Và ông đã thoát chết lúc ra đi.
  • Phần hai ‘Tâm Tư Về Đồng Minh’ ghi lại những nhận xét của TT Thiệu về chính sách của Hoa Kỳ tại Việt Nam từ thời TT Johnson đến TT Nixon: Tại sao TT Johnson mang quân vào Việt Nam? TT Nixon đã nói những gì với ông? Lồng bên trong là những tính toán của Hoa Kỳ với Trung Quốc: mở cửa Bắc Kinh, đóng cửa Sàigòn. Kết luận là bốn năm hòa đàm để đưa tới Hiệp định Paris năm 1973 chỉ là hư vô – vô ích!
  • Trong phần ba, cuốn sách tập trung vào chính con người ông Nguyễn Văn Thiệu, một nhân vật đa nghi và những nguyên nhân sâu xa của sự đa nghi ấy. Ông Thiệu đã dự tính rồi lại bỏ đi ý định viết hồi ký. Nhưng ông chú ý đến dư luận của người Việt Nam, nhất là của các chiến sĩ trong quân đội và muốn giãi bầy cảm nghĩ của mình đối với họ. Ông vẫn còn trăn trở về những cáo bưộc cho rằng ông là người hiếu chiến, là con diều hâu. Ít ai biết được rằng ngay khi vừa mới lên chức tổng thống vào tháng 10, 1967 ông đã viết thư cho Chính phủ Miền Bắc để đề nghị đàm phán trực tiếp giữa chính phủ của hai miền để đi tìm một giải pháp cho hòa bình. Nhưng Washington đã lạnh lùng với sáng kiến này! Tại sao như vậy? Ngày nay thì đã rõ: ngay từ mùa Thu 1964 (trước cả lúc TQLC Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng), mệnh lệnh của Tòa Bạch Ốc là “để tới được mục tiêu của mình một cách thỏa đáng, Hoa Kỳ sẽ tìm cách điều khiển bất cứ việc thương thuyết nào và sẽ chống lại bất cứ cố gắng riêng rẽ nào của Miền Nam để điều đình.
  • Phần thứ tư có thể làm cho độc giả ngậm ngùi vì đề cập tới niềm yên ủi vô biên đối với TT Thiệu về những thành tựu của VNCH. Tuy muộn màng, nhưng có lẽ đây cũng là một niềm yên ủi cho trên hai triệu người quân, công, cán, chính. Đằng sau người lãnh đạo và một triệu chiến binh ngoài tiền tuyến, lại có cả triệu người công chức, cán bộ nơi hậu phương. Từ thành thị tới thôn làng, họ cứ âm thầm để làm việc trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn. Họ cứ xây dựng trên đổ nát, cứ phát triển giữa hoang tàn.
  • Tổng kết về con người ông Nguyễn Văn Thiệu, phần cuối cùng đưa độc giả về hiện tại, về những gì đang xảy ra tại Iraq và Afghanistan, rồi rút ra những bài học cho một tiểu quốc.

***

Trong phần Phụ Lục, chúng tôi in lại 150 trang sử liệu quý giá bằng Anh ngữ để quí vị cho con cháu đọc, giúp các thế hệ con em hiểu rõ hơn về hoàn cảnh của Miền Nam trước 1975, cũng là hoàn cảnh của ông bà, cha mẹ trong giai đoạn lịch sử này, nó đã khó khăn như thế nào để các cháu mới có được những may mắn như ngày hôm nay. Bởi vậy con cháu phải cố gắng hơn nữa để trong một tương lai thế nào cũng tới, sẽ trở thành những người lãnh đạo của Hoa kỳ với tinh thần công bình và nhân ái.

Cuối sách là một tấm hình lịch sử có một không hai (khổ lớn 4 x 17): hình chụp toàn bộ lãnh đạo tối cao gồm cả ba ngành: Hành Pháp, Lập Pháp, và Tư Pháp, cùng với đông đủ Ngoại Giao Đoàn và các Cơ quan Thiện Nguyện Quốc tế tại Phòng Khách Tiết trang trọng trong Dinh Độc Lập. Đứng giữa là tác giả đang đọc diễn văn trình bày tiềm năng phong phú, tác động cộng đồng quốc tế yểm trợ nỗ lực của lãnh đạo và nhân dân Miền Nam tiến tới tự túc tự cường, sớm ra khỏi cảnh lệ thuộc vật chất vào đồng minh.

Share

Comments are closed.

Content Protected Using Blog Protector By: PcDrome.