Lời Mở Đầu

Một gian phòng khá rộng được xây kiên cố dưới lầu hầm. Bên cạnh là nơi đặt đài phát thanh với đầy đủ thiết bị kê sát nhau từ sàn lên tới trần. Hầm có máy phát điện và đường giây điện thoại riêng biệt. Giữa phòng kê một cái ghế, một bàn nhỏ với hai điện thoại khác màu. Góc phòng là một giường nhỏ, một gối mây và một tấm mền mỏng. Trên tường treo những bản đồ thật lớn về các quân khu, thành phố Sàigòn và vùng lân cận. Đây là trung tâm chỉ huy dành cho Tổng thống Thiệu phòng khi biến loạn. Từ căn phòng ngủ của gia đình, ông có thể đi xuống thẳng trung tâm này qua một cầu thang nhỏ.

“Hễ khi nào anh thấy Đại sứ Mỹ tới gặp và yêu cầu tôi làm một việc gì mà tôi không làm, thì chỉ vài tuần sau anh sẽ thấy có biểu tình,” ông nói với chúng tôi lúc còn ở Dinh Độc Lập. Không phải hễ cứ biểu tình là có đảo chính hay thay đổi chính phủ, nhưng đảo chính hoặc thay đổi chính phủ thường hay theo sau các cuộc biểu tình. Hầu như nó trở nên một quy luật, dù là ở Sàigòn (TT Diệm: 11/1963), Seoul, Đại Hàn (TT Rhee: 4/1960), hay Manila, Phi Luật Tân (TT Marcos: 2/1986).

Nhớ lại những cuộc biểu tình năm 1963 mà ông Thiệu phát ớn! Đang khi biểu tình tiếp diễn, tướng lãnh âm mưu đảo chính thuyết phục Đại tá Thiệu rằng nếu ông Diệm còn làm tổng thống thì quân đội sẽ bị cắt giảm quân viện, rồi ra lệnh cho ông tấn công Dinh Gia Long. Nhưng khi về tới Bộ TTM mà trông thấy xác Tổng thống Diệm và ông Nhu đầy máu me nằm co quắp trên sàn chiếc xe M-113 bọc sắt, ông đã bàng hoàng kinh hãi. Đại tá Thiệu mở mũ ra cúi đầu chào thật sâu. Rồi từ giây phút ấy hình ảnh hai người này luôn luôn lởn vởn trong trí óc ông.

Hằng năm cứ đến ngày 1 tháng 11, trong cương vị là tổng thống, ông Thiệu chủ tọa một tiệc khoản đãi cho ngoại giao đoàn. Nhưng khi tiếng chuông chiều từ ngôi Thánh Đường trước Dinh Độc Lập ngân lên thì trong ngôi nhà nguyện bé nhỏ, vợ chồng ông lại dự lễ tưởng niệm cho người quá cố. Linh mục Khổng Minh Giác, người hay cử hành thánh lễ cho gia đình ông, kể lại là vào ngày này khi hỏi về ý cầu xin trong buổi lễ, ông Thiệu đáp: “Xin cho linh hồn người sớm được về nơi Diễm Phúc, và xin người cầu cho chúng tôi trong giờ phút nguy khốn này.” Ông Thiệu muốn an ủi ông Diệm nơi thế giới bên kia, nhưng ông cũng đang cầu nguyện vừa cho ông Diệm vừa cho chính mình.

– Nguyễn Văn Thiệu: “Kể từ khi Hoa kỳ yêu cầu tôi từ chức và còn mặc cả với tôi về ngày giờ từ chức, nếu tôi không phải là một quân nhân thì tôi đã từ chức rồi. Bởi vì tôi thấy những người tôi coi là bạn đã thiếu tình nghĩa đối với tôi. Nhưng tủi nhục cá nhân thì dù lớn đến mấy đi nữa, tôi cũng sẽ tiếp tục chiến đấu… Tôi chưa hề nói với ai là người Mỹ đã yêu cầu tôi từ chức, vì nếu biết như vậy thì họ cũng sẽ bị tủi nhục giống như tôi, cho nên tôi đã làm ra bộ như chính mình tự lấy quyết định ấy.”

–Henry Kissinger: “Tôi cảm phục sự can đảm, lòng hy sinh và tính anh hùng được biểu lộ trong những câu giảng thuyết của Ngài. Tuy nhiên là một người Mỹ tôi không khỏi bực bội về câu phát biểu của Ngài cho là chúng tôi đã thông đồng với Xô Viết và Trung Quốc…Khi chúng tôi thảo luận với Xô Viết và Trung Quốc thì đó chỉ là để áp lực với họ để họ làm áp lực với Hà Nội. Chúng tôi thực tâm tin rằng bản Hiệp định đề nghị này bảo tồn được nền tự do của Miền Nam Việt Nam.” [i]

Đây là một đối thoại vào mùa Thu 1972 giữa hai người tại Dinh Độc Lập khi Tiến sĩ Kissinger đến làm áp lực để TT Thiệu chấp nhận dự thảo bản hiệp định do ông đàm phán. Ông Thiệu hỏi tại sao không có điều khoản về việc Bắc Việt rút quân khỏi Miền Nam, ông Kissinger nói: “Thưa Tổng thống, không thể như thế được. Nếu được thì tôi đã làm rồi. Vấn đề này đã được nêu lên trước đây ba năm nhưng Nga Xô không chấp nhận” (xem Chương 20). Đó là về quân sự, về giải pháp chính trị thì bản dự thảo lại còn điều khoản (Điều 5-b) đòi ông Thiệu phải từ chức.

Vừa đụng độ lớn với ông Kissinger như vậy năm 1972 thì sang năm 1973 ông Thiệu lại trở thành cái gánh nặng cho cả hai người Nixon và Kissinger. Sau khi ngưng chiến và quân đội Mỹ đã rút đi hết thì đến lúc thi hành giải pháp chính trị. Theo Hiệp định Paris thì Miền Nam phải thành lập một ‘Hội Đồng Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc’ một hình thức chính phủ liên hiệp với MTGP để đi tới bầu cử (xem Điều 9b và 12a trong Bảng so sánh trong Chương 16). Nhưng ông Thiệu cứ dùng dằng mãi, đòi phải có bảo đảm về bầu cử tự do thì mới có Hội đồng. Việc này làm cho ông Kissinger rất bất mãn. Ông muốn mọi bước đi phải theo đúng quy trình ông đã sắp xếp. Vì có như vậy thì mới chứng minh được sự thành công là đã đem lại cả hòa bình lẫn danh dự cho Miền Nam. Washington càng khó chịu, ông Thiệu lại càng đề cao cảnh giác.

***

Phần đông đồng bào chỉ biết đến Nguyễn Văn Thiệu là một tướng lãnh, một tổng thống, ít ai biết đến khía cạnh ‘con người’ và những suy nghĩ, tính toán thầm kín trong tâm trí ông. Ngay cả phía Mỹ cũng không biết mà chỉ phỏng đoán, dù CIA đã phải dùng đến những phương pháp bất chính kể cả gài máy nghe lén tại văn phòng và khu ở của gia đình ông trong Dinh Độc Lập (như tiết lộ mới đây- 2009). ..

Vì ở xa quê hương từ năm 1957, cá nhân chúng tôi không biết gì nhiều về những khía cạnh chính trị nội bộ. Nhưng vì một tình cờ lịch sử nên trong những năm cuối cùng, chúng tôi đã được chứng kiến một số việc Tổng thống Thiệu làm, nhất là những suy tư, tính toán của ông đối với Hoa Kỳ. Đôi khi, chúng tôi cũng cảm nhận được một vài niềm vui đến với ông về mặt xây dựng kinh tế, và phát triển nông thôn. Rồi khi nhìn thấy ánh sáng dầu lửa “cuối đường hầm” thì ông rất hoan hỉ vì nghĩ rằng sắp tới lúc hết còn phải lệ thuộc vào người đồng minh. Đặc biệt về việc VNCH phải luôn luôn đi ‘cầu viện’ thì trong những ngày tháng cuối cùng, ông đã để lộ ra nỗi chua cay xót xa. Sau này tại Luân Đôn và Boston, chúng tôi còn được nghe ông tâm sự nhiều hơn nữa về khía cạnh này, về cái cảnh làm tổng thống một nước nghèo! Nhớ lại là vào hè 1974 khi Quốc Hội Mỹ cắt viện trợ quá bất ngờ, ngược hẳn lại với những cam kết là sẽ tăng mạnh viện trợ để bù vào việc Mỹ rút đi thì trong những buổi họp thấy nét mặt ông đăm chiêu, lo lắng. Dần dần chúng tôi mới biết là từ đó ông đã suy nghĩ về kế hoạch ‘đầu bé đít to’, cắt xén lãnh thổ, nhưng chỉ lủi thủi suy nghĩ một mình. Bởi vậy, ít khi nào thấy ông cười đùa hay nói chuyện tiếu lâm như lúc trước.

Sau khi TT Nixon từ chức, chúng tôi gợi ý là ông nên nói thẳng với đồng bào về những nỗi khó khăn của mình để họ cùng chia sẻ với ông, nhất là vì mọi người đang phải chịu đựng trước một tình trạng kinh tế, tài chính khó khăn. Nhưng không, ông không chịu, lại còn chỉ thị chúng tôi nói với anh em trong khối kinh tế, tài chính là chớ có bàn bạc công khai về viện trợ kẻo quân dân nản lòng.

Cho nên, về liên hệ đối với Hoa kỳ thì ông luôn luôn trăn trở. Ông bị ray rứt bởi những tình cảm lẫn lộn về một đồng minh thương, ghét, một mối tình chẳng bao giờ xuông sẻ. Là lãnh đạo một nước bị lôi cuốn vào một cuộc chiến dài lê thê, ông phải trông nhờ vào người đồng minh chính yếu về mọi mặt quân sự lẫn kinh tế. “Chúng tôi đi tìm đâu ra được một cường quốc khác có thể giúp chúng tôi như Hoa Kỳ…Không, không đâu, nếu Hoa kỳ bỏ rơi thì chúng tôi sẽ sụp đổ, sụp đổ hoàn toàn, tuyệt đối,” ông Thiệu tâm sự với nữ ký giả Oriana Fallaci. [ii]

Về bình diện cá nhân thì chỗ đứng của ông trên cái sân khấu chính trị Miền Nam lại cũng dựa phần lớn vào sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Nếu không có sự ủng hộ ấy là nguy ngay, như thời TT Diệm. Chính ông Thiệu kể lại rằng lý do thuyết phục nhất do những tướng lãnh âm mưu đảo chính đưa ra lúc ấy là ‘nếu ông Diệm còn làm tổng thống thì quân viện sẽ bị cắt giảm.’

Cái oái oăm là đang khi phải ôm lấy người đồng minh cho thật chặt thì ông lại trăn trở trong lòng về những hành động của người ấy, nay thế này mai thế khác, chẳng biết đâu mà lần. Rồi cuối cùng thì phải chuốc lấy một niềm cay đắng, một sự tủi nhục khôn nguôi. Nhưng ông là con người rất tư riêng, kín đáo, ít khi chia sẻ với người khác về những vấn đề của mình. Ông hay ví von cái liên hệ VNCH và Hoa Kỳ giống như tình nghĩa đôi vợ chồng. “Thưa bà,” ông nói với Oriana Fallaci, “vợ chồng cũng có thể cãi nhau, nhưng có phải vì vậy mà trở thành thù địch đâu. Nhưng nếu có gây lộn thì phải ở trong phòng ngủ, lúc cửa đã khóa thật chặt, không bao giờ nên để cho con cái nhìn thấy cái cảnh gây lộn. Tình nghĩa giữa bạn bè thì cũng như vậy.” [iii]

***

Khởi thủy, chúng tôi chẳng biết ông Nguyễn Văn Thiệu là ai. Chỉ từ giữa năm 1965 mới thấy báo chí Mỹ nói tới ông. Trong khoảng hai năm trước đó, hình ảnh chính trị Miền Nam trở nên hết sức bết bát. Tại các đại học Mỹ, chúng tôi thường bị sinh viên, giáo sư vặn hỏi là ‘tại sao nước các anh lộn xộn quá vậy?’ Cứ đảo chính liên tục! Nhưng từ khi có Tướng Thiệu lên vai trò lãnh đạo thì thấy tình hình dần dần ổn định, không nghe thấy lộn xộn nữa. Ông này là ai đây, chúng tôi tự hỏi.

Mùa Xuân 1968, đang khi đi công tác cho Quỹ Tiền tệ Quốc tế ở Gambia (Phi Châu) chúng tôi nghe đài VOA loan tin TT Johnson quyết định không ra tranh cử nữa. Như vậy là xong rồi, chúng tôi suy luận. Ngay từ tháng 4, 1965 khi thấy TT Johnson đề nghị ngưng chiến và dùng ít nhất là một tỷ đô la để tái thiết Đông Dương (xem Chương 13), chúng tôi đã bắt đầu hy vọng và suy nghĩ về một giải pháp để đi tới hòa bình, đó là hiệp thương giữa hai miền Nam, Bắc. Bởi vậy sau Tết Mậu Thân khi thấy ông Johnson tuyên bố không ra thêm nhiệm kỳ nữa, chúng tôi thấy tình hình trở nên khẩn trương, nên quyết định sang Đức để nghiên cứu mô hình Đông Đức và Tây Đức buôn bán với nhau. Dù là một nước bị phân chia nhưng liên lạc thương mại thì vẫn tiếp tục. Hè 1969 chúng tôi thảo lá thư đầu tiên cho TT Thiệu. Bức thư được chuyển qua Tướng Trần Văn Đôn (Đại sứ Lưu động), một người chúng tôi quen biết. Ông Đôn nói chúng tôi nên về Sàigòn để trình bày với Tổng thống Thiệu. Qua sự sắp xếp này, vào tháng 9, 1971 chúng tôi nhận được lời mời của Tổng thống để về Sàigòn tham khảo.

Gặp ông lần đầu, chúng tôi rất ái ngại phải mang chuyện hiệp thương ra trình bày vì nó trái ngược với đường lối của ông. Nhưng ngược lại, ông tỏ ra rất mềm dẻo, uyển chuyển. Ông đồng ý với chúng tôi và còn cho mang ra hòa đàm Paris để đề nghị với Bắc Việt. Đến lúc bầu cử vào mùa Thu 1971, chính ông đã đề nghị hiệp thương trong một bài diễn văn trước lúc bầu cử. Sau này, vào năm 1986 khi thăm ông tại Boston, chúng tôi hỏi là tại sao ông lại đồng ý về đề nghị của chúng tôi lúc ấy. Ông hỏi lại: “Tại sao không?” Tôi nói vì nó đi ngược với chính sách ‘Bốn Không’. Ông giải thích: “Tôi chỉ nói ‘bốn không’ chứ có bao giờ tôi nói bốn không cả trăm phần trăm đâu.’ Đó chỉ là một cái chiến lược để điều đình. Khi điều đình thì có thể là 70% cái không này, 30% cái không kia. Điều đình thì phải còn có cái gì để mà điều đình ch.”

Báo chí Mỹ thường mô tả ông là con người diều hâu, quá cứng rắn, độc tài. Một mình với chúng tôi ông tỏ ra mềm dẻo, bình dân, không có cử chỉ cao ngạo. Tuy nhiên phần nào thì chúng tôi cũng đã cảm nhận được cái cá tính thận trọng, đa nghi của ông. Với đôi mắt sáng quắc, ông cứ ngó thẳng vào mặt chúng tôi: ông này đang xem tướng mình đây, tôi nghĩ, hoặc đang dò xét xem mình có phải là người CIA hoặc đến cầu cạnh việc gì không. Tôi nhìn thẳng vào mắt ông, như để đáp lại. Khuôn mặt ông tròn trĩnh, không vết nhăn hay vẻ lo âu. Trong thời gian làm việc gần ông cũng như sau này trong những chuyến thăm hỏi, chúng tôi thấy ông sống đơn giản, không cầu kỳ. Ông thích ăn phở, hủ tiếu, uống cà phê. Ban tối thì nhâm nhi ly rượu whisky. Có lần ông còn dặn tôi nên tập ăn thịt chuột, vì “thịt chuột ở Miền Tây rất ngon”. Về quần áo, ông thích mặc những bộ ngắn tay kiểu safari bốn túi, kể cả khi tiếp nghị sĩ Mỹ (xem hình 23-24). Tới hôm ông tiếp toàn bộ phái đoàn Quốc hội Hoa Kỳ cuối cùng (ngày 1 tháng 3, 1975), ông cũng định mặc bộ bốn túi như thường lệ, tôi gợi ý là ông nên mặc complet. Ông hỏi lại: “mặc bộ bốn túi thì không phải tổng thống hay sao?” Tôi trả lời là tất cả phái đoàn trừ hai bà dân biểu (Bella Abzug và Millicent Fenwick) đều mặc complet. Ông đồng ý ngay và mặc một bộ complet mầu xanh đậm.

Trong bài viết về người niên trưởng là Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu đã ra đi, nhà bình luận Giao Chỉ (cựu đại tá) có viết: “Ông Thiệu ra đi không để lại hồi ký. Suốt 30 năm lưu vong, trừ một thời gian xuất hiện ngắn tại San Jose, ngoài ra ông hoàn toàn kín tiếng và sống ẩn dật. Không tiếp xúc với báo chí, không để lại các di sản cho lịch sử. Đặc biệt là vấn nạn số một của quốc gia là câu chuyện bang giao với Hoa Kỳ trong các năm cuối cùng không hề được ghi lại. Niên trưởng Nguyễn Văn Thiệu ôm lấy chuyện đau lòng của đất nước như chuyện riêng của ông.” Bà Thiệu cũng nói trong nhà không tìm thấy trang giấy hồi ký nào cả.

Không những chuyện đất nước, ông còn ôm cả những chuyện riêng của mình đem xuống tuyền đài. “Tôi đã sống ở đây (Londres) 8 năm trong cay đắng,” TT Thiệu nói với Phụ Tá Nguyễn Văn Ngân khi gặp lại nhau đầu năm 1983. Sau cùng thì không phải 8 năm mà là 26 năm cay đắng trên xứ người. Nhưng ông không một lời ta thán, đổ lỗi hay bào chữa. Duy chỉ có một lần không kiềm chế được nên ông đã phải lên tiếng. Độc giả còn nhớ là vào mùa thu năm 1979, một số báo chí ngoại quốc và nhất là của người Việt ở Mỹ, Úc, và Âu châu đã có những bài chỉ trích ông hết sức nặng nề về một lời tuyên bố gán cho ông in trên tờ báo NOW ở bên Anh. Một bài do nhà báo Michael Dunlop viết về ông cựu Tổng thống Miền Nam có viện dẫn một câu mà anh ta viết là chính ông Thiệu nói. Ông Thiệu hết sức bất mãn. Đây là lần duy nhất trước và sau 1975 chính ông phải viết để thanh minh trước công luận.

Khi gặp lại chúng tôi lần đầu vào năm 1976, ông có nói là sẽ không bao giờ cho báo chí phỏng vấn. Nhưng vào năm 1979 chắc vì có ai ở Luân Đôn đã thuyết phục ông cho nhà báo Dunlop gặp và trò truyện, nên ông bằng lòng…

Lần này, chắc ông chỉ một mình ngồi với nhà báo, nên đã có sự trục trặc lớn về ngôn ngữ. Khi nhà báo hỏi ông xem ông có thể làm được gì cho đồng bào thuyền nhân thì ông trả lời với ý muốn nói là nay tôi chẳng còn quyền hành hay phương tiện để làm được gì ‘đối với’ đồng bào tôi!” Vấn đề trục trặc là dịch ra tiếng Anh về chữ ‘đối với’ đồng bào tôi. Đáng lẽ phải nói là “Now I have nothing left to do for them,” thì (theo như người phỏng vấn), ông đã nói “Now I have nothing left to do with them.” Báo chí Việt ngữ dịch ra là ông Thiệu tuyên bố “Bây giờ tôi chẳng còn mắc mớ gì đối với họ nữa.” Quả tim ông Thiệu sao lạnh như đá?’ Thoạt đầu khi đọc tin này thì tôi cũng giật mình, vì không thể tin rằng một người như ông Thiệu lại có thể nói câu này.

Mà thực như vậy. Đang khi tôi băn khoăn thì ngày 15 tháng 10, 1979 ông viết thư kèm theo bài phỏng vấn và yêu cầu tôi đính chính với đồng bào ông về chuyện này. Và nếu thấy nên thì đăng lên báo dưới một hình thức nào đó để cải chính.

Trong thời gian khi ông còn cư ngụ tại Luân Đôn, vì điện thoại viễn liên lúc ấy chưa phát triển, lại rất đắt đỏ, nên thỉnh thoảng ông có viết thư cho chúng tôi thay vì gọi điện thoại. Chắc chắn là tôi phải trân trọng giữ những lời tâm sự qua thư từ của ông như những kỷ niệm. Tuy nhiên, sau một thời gian dài, và dù đã ở thế giới bên kia, tôi chắc ông cũng đồng ý cho tôi trích lại lá thư này như một thí dụ để nói lên tâm tình của ông (xem bản chụp thư ông viết tay):

15/10, 1979

Anh Hưng mến,

Chắc mấy hôm nay bên này anh có đọc báo Mỹ đăng lại những gì mà tờ báo NOW! bên Anh quote (trích dẫn) tôi. Vì đó tôi gởi cho Anh hôm nay:

- Bài báo đó,

- 1 thơ tôi chưởi thằng Michael Dunlop, tên này đã gặp tôi và tường thuật lại sai biệt cho báo Now!

- 1 thơ cho Editor-in-Chief báo NOW!

Khi Anh đọc xong, Anh sẽ thấy rõ tôi chỉ chưởi (chửi) tên này về những chuyện liên hệ tới cá nhân tôi và đến vấn đề Việt Nam mà thôi. Còn những gì nó quote tôi dù trúng hay sai có liên hệ đến Mỹ, tôi không quan tâm lắm.

Có một điểm mà tôi chưởi (chửi) nó nặng nhứt là câu về di cư:…with them và for them, vì tôi sợ đồng bào di cư hiểu lầm. Đây là một ác ý rõ ràng của nó. Không biết do ai xúi dục mà thấy trùng hợp với vụ Kissinger ra sách v.v. Không biết có phải để discredit tôi thêm và phủ đầu mình hay không?

Vậy có dịp nào báo hay bất cứ ai thắc mắc về câu liên hệ đến Boat people thì Anh đính chánh giùm.

Cũng có thể nếu anh thấy tiệnnên, thì đăng lên báo nào influent nhứt 1 hình thức nào đó với mục đích clear giùm tôi… mà cũng vẫn cái điểm về di cư là quan trọng nhứt

Tôi vẫn mong thư Anh. Khi nhận được, tôi sẽ viết dài hơn.

Thăm Anh và Anh em vui, MẠNH.

Mến,

Thiệu

Sau 1975, khi báo chí cáo buộc ông nhiều điều, tôi nói ông nên cải chính, nhưng ông không chịu, cho là ‘không cần thiết,’ nhưng vụ ‘boat people’ thì tự ông yêu cầu tôi cải chính giúp. Trong thư, khi nhắc lại là chỉ cần cải chính ‘cái điểm về di cư,’ ông còn viết thêm ở bên lề trang giấy là “những điểm kia có nói được hay không, cũng không cần thiết. Có thì tốt, không thì thôi.” Tôi đã làm theo ý ông và cải chính với bạn bè, nhưng đến khi hỏi lại ông về việc cải chính trên báo thì ông suy nghĩ lại và nói là khỏi cần vì có thể là báo chí lại được dịp bình luận thêm nữa là ‘bây giờ thì cải chính.’ Vả lại ông cũng đã viết thư phản đối cho chủ biên tờ NOW rồi.

Đọc qua bức thư vắn gọn này, ngoài vấn đề thuyền nhân, ta cũng thấy ngay một vài nét về tâm tư Tổng thống Thiệu: thứ nhất là ông rất nhạy cảm về việc ông bị chỉ trích là thờ ơ đối với thuyền nhân, nhạy cảm hơn hết những chuyện khác; Thứ hai là cảm giác ê chề của ông đối với người Mỹ đến mức ông chẳng cần để ý xem nhà báo đã trích dẫn đúng hay sai về Mỹ; thứ ba là sự cay đắng sâu xa của ông đối với ông Kissinger; và thứ tư là tính đa nghi: ông nghi Kissinger đã đứng sau vụ này để làm ông mất uy tín vì anh ta sợ ông sẽ viết lách gì đây.

Khi chúng tôi ra mắt cuốn KĐMTC, nhiều độc giả đặt những câu hỏi về Tổng thống Thiệu, những quyết định cuối cùng, những suy nghĩ của ông về người đồng minh, và về chính con người Nguyễn Văn Thiệu. Bởi vậy trong cuốn sách này chúng tôi mong được chia sẻ với đồng hương những gì mình đã chứng kiến trong Dinh Độc Lập, những điều ông suy nghĩ, tính toán và thổ lộ sự chua xót, kèm theo những điều chúng tôi đã tìm hiểu thêm được về tâm tư của TT Thiệu đối với đồng minh. Và chỉ có thế. Chúng tôi không phải là sử gia nên không có tham vọng viết sử. Hy vọng của chúng tôi khi viết những dòng này là sẽ giúp cho độc giả có thêm dữ kiện để chính độc giả đi đến những kết luận riêng của mình.


[i] Henty Kissinger, White House Years, trang 1385

[ii] Oriana Fallaci, Interview With History, trang 57

[iii] Oriana Fallaci, sách đã dẫn (sđd.), trang 49

Share

Comments are closed.

Content Protected Using Blog Protector By: PcDrome.